Lê Tựu Khiết (Lê Khiết) hiệu là Dương Phong, tự là Huy Thanh, sinh năm Đinh Tỵ – 1857, người làng An Ba, tổng Hành Cận, nay là thôn An Ba, xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành. Ông nội là Lê Công Thiên, tri phủ Kiến An thời Gia Long, cha là Lê Văn Diễn, từng làm quan đến chức tuần phủ dưới triều vua Thiệu Trị.

Sẵn có tư chất mưu trí, lại có điều kiện kèm theo học tập, năm Canh Ngọ ( 1882 ), ông thi đỗ cử nhân tại trường thi Tỉnh Bình Định. Năm Ất Dậu ( 1885 ) ông được triều đình bổ nhiệm chức Cơ mật hành tẩu, sung chức Tả trực kỳ khâm sai phái viên .

Tượng bán thân Lê Tựu Khiết (1857 – 1908) 

Năm Bính Tuất ( 1886 – Đồng Khánh nguyên niên ) ông lãnh chức Tu soạn kiêm Nghĩa Định Sơn phòng tán tương quân vụ. Năm Giáp Ngọ ( 1894 – Thành Thái thứ 6 ), ông lãnh chức Án Sát tỉnh Quảng Nam .
Năm Ất Mùi ( 1895 – Thành Thái thứ 7 ), ông lãnh chức Tán lý quân vụ 4 tỉnh : Thanh Hoá, Nghệ An, thành phố Hà Tĩnh, Quảng Bình. Năm 1896 ( Thành Thái thứ 8 ), ông bị giáng chức 2 cấp, đưa về làm Bố chánh tỉnh Nghệ An. Vì vậy ông còn có tên gọi là Bố Khiết .
Lê Tựu Khiết là bạn bè con bạn dì với Nguyễn Thân, lại dự vào hàng mưu sỹ của Nguyễn Tấn ( phụ vương Nguyễn Thân, tác giả sách Phủ man tạp lục ) nên được kẻ bán nước cầu vinh tin dùng, trở thành một trong những môn hạ thân tín của hắn. Vì vậy, ông bị giới thức giả và nhân dân Trung kỳ thời bấy giờ rất chán ghét và xem như “ kẻ bán hồn cho quỹ dữ ” .
Khoảng thời hạn này, cụ Phan Bội Châu hoạt động giải trí ở hải ngoại, viết cuốn Nước Ta vong quốc sử, trong đó có đoạn gọi đích danh Lê Tựu Khiết là “ con chó dữ của Nguyễn Thân ”. Cuốn sách của cụ Sào Nam bí hiểm Viral trong nước và được một người tên là Lê Võ, cố ý trao đến tay Lê Tựu Khiết. Đọc đến đoạn cụ Phan viết về mình, Lê Tựu Khiết buông sách ôm mặt khóc, rồi thốt lên “ Thương thay, trước đây tôi lầm, thật là chó má vậy. Từ nay trở đi tôi mới làm người ” .
Năm 1897 Lê Tựu Khiết từ quan, trở về quê nhà, sau đó được sự tin cậy và khuyến khích của Phan Chu Trinh, ông tham gia hoạt động giải trí yêu nước trong trào lưu Duy Tân .
Ngoài việc mở hiệu thuốc Quảng Tri ( ở một điểm thuộc cửa tây thành Tỉnh Quảng Ngãi ) để làm cơ sở hoạt động giải trí kinh tế tài chính và cơ quan liên lạc của Nghĩa hội Duy Tân, Lê Tựu Khiết còn tích cực tham gia hoạt động mở trường dạy học, lập hiệu buôn, hội cày, cắt tóc ngắn, tiêu diệt hủ tục ; cùng Lê Đình Cẩn và những nhà chỉ huy Duy Tân Tỉnh Quảng Ngãi bắt liên lạc với phái Đông du, shopping vũ khí, … bí hiểm chuẩn bị sẵn sàng bạo động .
Đầu tháng 3 năm 1908, trào lưu kháng thuế – cự sưu nổ ra ở Quảng Nam, rồi bùng lên mãnh liệt ở những tỉnh miền Trung, đặc biệt quan trọng là 2 tỉnh Quảng Nam – Tỉnh Quảng Ngãi .
Ở Tỉnh Quảng Ngãi từ 24/3 đến 2/4/1908, khắp 6 phủ, huyện những đoàn nông dân liên tục kéo về tỉnh thành dán “ cáo thị đồng bào ”, tự xưng là “ lục phủ huyện dân ” ( dân 6 phủ, huyện ) đưa ra những yêu sách đòi giảm xâu, giảm thuế. Ngày 02/4, số người vây quanh tỉnh thành lên đến 10 vạn, cỗ máy lý hương ở làng xã tê liệt trọn vẹn, trống mõ “ thanh viện ” vang suốt ngày đêm .
Nhận thấy trào lưu tự phát quá kinh hoàng, có hướng ngã sang bạo động, dễ bị thực dân Pháp lấy cớ đàn áp, những nhà chỉ huy Duy Tân trong đó có Lê Tựu Khiết nhóm họp vào ngày 3/4/1908 quyết định hành động trực tiếp đứng ra chỉ huy trào lưu .
Chủ trương này của những thủ lĩnh Duy Tân ở Tỉnh Quảng Ngãi thực sự là một hành vi gan góc và cũng là một đặc thù biểu lộ khuynh hướng riêng của Duy Tân Tỉnh Quảng Ngãi, vì những nhà cách mạng theo chủ trương Duy Tân vốn nặng về phương cách hoạt động giải trí công khai minh bạch, hợp pháp và chú trọng nhiều hơn ở những tầng lớp tri thức – nho sĩ .

Hoảng sợ trước sự liên kết chặt chẽ giữa “những kẻ chủ mưu” Duy Tân và “bọn giặc cúp tóc”, tên công sứ Dodet ra tay khủng bố. Ngày 07.4.1908, Lê Tựu Khiết rồi Nguyễn Bá Loan và nhiều vị lãnh đạo khác của phong trào bị bắt. Quần chúng lại tiếp tục kéo về tỉnh thành, giận dữ tột độ, hô vang các khẩu hiệu đòi thả Nguyễn Bá Loan, Lê Tựu Khiết.

Trước tình thế khẩn cấp, biết Lê Tựu Khiết là người có uy tín, Dodet “ dục hoãn cầu mưu ” bằng cách dụ ông lên mặt thành lôi kéo dân chúng giãn vòng vây để “ tạo điều kiện kèm theo điều đình ”. Biết rõ thủ đoạn của hắn, Lê Tựu Khiết nhất quyết chối từ .
Biết không khuất phục, mua chuộc được Lê Tựu Khiết, Dodet quay sang tìm cớ để ghép tội ông. Tên gian hùng Nguyễn Thân và kẻ tay sai hèn nhát Phạm Kế Năng đứng ra làm chứng, tố cáo Lê Tựu Khiết, Nguyễn Bá Loan là những người chủ xướng và “ xúi giục bạo động ” .
Ngày 23/4/1908 ( 22 tháng 3 Mậu Thân ), giặc Pháp đem Lê Tựu Khiết và Nguyễn Bá Loan, Trần Chót, Nguyễn Đến ra xử chém tại bãi nam sông Trà Khúc, thuộc địa phận làng Ba La, phủ Tư Nghĩa .
Theo lời thuật lại của Đặng Bằng Đoàn trong Nước Ta nghĩa liệt sĩ, lúc sắp bị đem đi chém, Lê Tựu Khiết vẫn giữ vẻ mặt từ tốn, thanh thản và nói : “ cái vết dơ của lịch sử dân tộc nửa đời người, tôi nay lấy máu cổ mà rửa. Vinh hạnh biết chừng nào ” .
Nghe tin Lê Tựu Khiết bị giết, cụ Phan Bội Châu, người đã từng nặng lời với ông, tỏ lòng xót xa, thương tiếc và có thơ viếng, lời lẽ xúc động :
Nô lệ nửa đời đã xấu xa
Ngoảnh đầu nay nhận ra ta

Nhật nguyệt soi Ông thay sử cũ
Non sông chờ tớ quét đường xa …

Lê Tựu Khiết là gương sáng về một con người biết tìm về chính nghĩa, tha thiết gắn bó với đồng bào, không tiếc thân mình vì nghĩa lớn.

Trong kháng chiến chống Pháp, một trường trung học ở Tỉnh Quảng Ngãi mang tên ông – Trường trung học Lê Khiết, được xây dựng vào tháng 10/1945 và sống sót cho đến năm 1955. Đây là một trường học nổi tiếng dưới chính sách dân chủ cộng hoà, đã giảng dạy cho tỉnh nhà và quốc gia nhiều nhân tài trong những nghành nghề dịch vụ : chính trị, khoa học, giáo dục, văn hoá thẩm mỹ và nghệ thuật …
Tháng 9/1990, Trường trung học phổ thông Lê Khiết được tái xây dựng, sau đó chuyển thành Trường trung học phổ thông chuyên Lê Khiết. Một con đường ở thành phố Tỉnh Quảng Ngãi cũng được vinh dự mang tên ông .

Lê Hồng Khánh (Baoquangngai.vn)

Đánh giá bài viết